DỪNG CHÂN ĐỨNG LẠI TRỜI NON NƯỚC

     
Trong dòng văn thơ cổ Nước Ta có hai nữ thi sĩ được nhiều người biết đến đó là Hồ Xuân Hương và bà Huyện Thanh Quan. Nếu như thơ văn của Hồ Xuân Hương sắc sảo, , góc cạnh thì phong thái thơ của bà Huyện Thanh Quan lại chững lại, sâu kín, hoài cảm …Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà ,
*

Bạn đang xem:

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.Lom khom dưới núi tiều vài chú,Lác đác bên sông chợ mấy nhà.Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.Dừng chân đứng lại trời non nước,Một mảnh tình riêng ta với ta.Bạn đang xem: Dừng chân đứng lại trời non nước




Bạn đang xem: Dừng chân đứng lại trời non nước

Tên thật là Nguyễn Thị Hinh sống trong nửa đầu thế kỷ 19. Quê ở làng Nghi Tàm, ven Hồ Tây, kinh thành Thăng Long. Bà xuất thân trong một mái ấm gia đình quan lại, có nhan sắc, có học, có tài thơ Nôm, giỏi nữ công gia chánh – bà được vua Minh Mệnh vời vào kinh đô Phú Xuân làm nữ quan “ Cung trung giáo tập ”. Chồng bà là Lưu Nghi làm tri huyện Thanh Quan, tỉnh Tỉnh Thái Bình, nên người đời trân trọng gọi bà là Bà huyện Thanh Quan .Bà chỉ còn để lại 6 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật : “ Qua Đèo Ngang ”, “ Chiều hôm nhớ nhà ”, “ Thăng Long thành hoài cổ ”, “ Chùa Trấn Bắc ”, “ Chơi Đài Khán Xuân Trấn võ ”. “ Tức cảnh chiều thu ” .Thơ của bà hay nói đến hoàng hôn, man mác buồn, giọng điệu du dương, ngôn từ nhã nhặn, hồn thơ đẹp, điêu luyện .Trên đường vào Phú Xuân …, bước tới Đèo Ngang lúc chiều ta, xúc cảm dâng trào lòng người, Bà huyện Thanh Quan sáng tác bài “ Qua Đèo Ngang ”. Bài thơ tả cảnh Đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nỗi buồn đơn độc, nỗi nhớ nhà của người lữ khách – nữ sĩ .Lần đầu nữ sĩ “ bước tới Đèo Ngang ”, đứng dưới chân con đèo “ đệ nhất hùng quan ” này, địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh thành phố Hà Tĩnh – Quảng bình, vào thời gian “ bóng xế tà ”, lúc mặt trời đã nằm ngang sườn núi, ánh mặt trời đã “ tà ”, đã nghiêng, đã chênh chênh. Trời sắp tối. Âm “ tà ” cũng gợi buồn thấm thía. Câu 2, tả cảnh sắc : cỏ cây, lá, hoa … đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ “ chen ”, vần lưng : “ đá ” – “ lá ”, vần chân : “ tà ” – “ hoa ”, thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự quá bất ngờ và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước :

“Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”.

Chỉ có hoa rừng, hoa dại, hoa sim, hoa mua. Cỏ cây, hoa lá phải “chen” với đá mới tồn tại được. Cảnh vật hoang sơ, hoang dại đến nao lòng.




Xem thêm: Điều Khiển Trò Chơi, Giải Trí Ví Dụ Mạch Điện Tử Điều Khiển Là?




Xem thêm: Các Hệ Điều Hành Lưu Trữ Ở Đâu, Hệ Điều Hành Được Lưu Trữ Ở Đâu

Nữ sĩ sử dụng phép đối và hòn đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Âm điệu thơ trầm bổng du dương, đọc lên nghe rất mê hoặc :“ Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà ” .Điểm nhìn đã đổi khác : đứng cao nhìn xuống dưới và nhìn xa. Thế giới con người là tiểu phu, nhưng chỉ có “ tiều vài chú ”. Hoạt động là “ lom khom ” khó khăn vất vả đang gánh củi xuống núi. Một nét vẽ ước lệ rong thơ cổ ( ngư, tiều, canh, mục ) nhưng rất thần tình, tinh xảo trong cảm nhận. Mấy nhà chợ bên sông thưa thớt, lác đác. chỉ mấy cáilèu chợ miền núi, sở dĩ nữ sĩ gọi “ chợ mấy nhà ” để gieo vần mà thôi : “ tà ” – “ hoa ” – “ nhà ”. Cũng là cảnh hoang vắng, heo hút, buồn hoang sơ nơi con đèo xa xôi lúc bóng xế tà .Tiếp theo nữ sĩ tả âm thanh tiếng chim rừng : chim gia gia, chim cuốc gọi bầy lúc hoàng hôn. Điệp âm “ con cuốc cuốc ” và “ cái gia gia ” tạo nên âm hưởng du dương của khúc nhạc rừng, của khúc nhạc lòng người lữ khách. Lấy cái động ( tiếng chim rừng ) để làm điển hình nổi bật cái tĩnh, cái vắng lặng im lìm trên đỉnh đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng hôn, đó là thẩm mỹ và nghệ thuật lấy động tả tĩnh trong thi pháp cổ. Phép đối và hòn đảo ngữ vận dụng rất tài tình :“ Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gai ” .Nghe tiếng chim rừng mà “ nhớ nước đau lòng ”, mà “ thương nhà mỏi miệng ’ nỗi buồn thấm thía vào 9 tầng sâu cõi lòng, toả rộng trong khoảng trống từ con đèo tới miền quê thân thương. Sắc điẹu trữ tình dào dạt, thiết tha, ngưng trệ. Lữ khách là một nữ sĩ nên nỗi “ nhớ nước ”, nhó kinh kỳ Thăng Long, nhớ nhà, nhó chồng con, nhớ làng Nghi Tàm quen thuộc không thể nào kể xiết !

Bốn chữ “dừng chân đứng lại” thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn. Một cái nhìn mênh mang: “Trời non nước”; nhìn xa, nhìn gần, nhìn cao, nhìn sâu, nhìn 4 phía… rồi nữ sĩ thấy vô cùng buồn đau, như tan nát cả tâm hồn, chỉ còn lại “một mảnh tình riêng”. Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của vũ trụ, của “trời non nước” tương phản với cái nhỏ bé của “mảnh tình riêng”, của “ta” với “ta” đã cực tả nỗi buồn cô đơn xa vắng của người lữ khác khi đứng trên cảnh Đèo Ngang lúc ngày tàn. Đó là tâm trang nhớ quê, nhớ nhà:


“ Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta ” .“ Qua Đèo Ngang ” là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật tuyệt bút. Thế giới vạn vật thiên nhiên kỳ thú của Đèo Ngang như hiển hiện qua dòng thơ. Cảnh sắc hữu tình thấm một nỗi buồn man mác. Giọng thơ du dương, réo rắt. Phứp đối và hòn đảo ngữ có giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ trong nét vẽ tạo hình đầy mày mò. Cảm hứng vạn vật thiên nhiên trữ tình chan hoà với tình yêu quê nhà quốc gia đậm đà qua một hồn thơ lịch sự và trang nhã. Bài thơ “ Qua Đèo Ngang ” là lời nói của một người mà trở thành khúc tâm tình của muôn triệu người, nó là bài thơ một thời mà mãi mãi – bài thơ non nước . Các từ khóa trọng tâm ” cần nhớ ” của bài viết trên hoặc ” cách đặt đề bài ” khác của bài viết trên:,

Chuyên mục: Các từ khóa trọng tâm ” cần nhớ ” của bài viết trên hoặc ” cách đặt đề bài ” khác của bài viết trên :, Chuyên mục : Kiến thức mê hoặc